alika
06-29-2007, 03:26 PM
Đừng để một ngày xấu trời nào đấy, khi khởi động Computer của bạn (hoặc Server cty), chỉ nghe những tiếng bip.bip…kéo dài, một màn hình xanh chết chóc hiện lên (blue-death screen) và máy tính bất động. Ổ cứng hỏng chăng, bao nhiêu dữ liệu của cá nhân hoặc tổ chức có thể mất hết. Toàn bộ cấu hình xây dựng hệ thống, các ứng dụng đã cài đặt, các chính sách đã thiết lập, các tài khoản Users được tạo ra có thể cũng đã ra đi…
Khởi động lại Computer từ Floppy disk hay CD-ROM, loay hoay với một mớ dòng lệnh MS-DOS, và hồi hộp mong cho dữ liệu “hãy quay về”, rồi thất vọng khi chợt nhận ra .."tôi đã cố hết sức ..."
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window1.jpgĐể một ngày nào đó không phải đối mặt với những thảm họa đã nêu, hãy sử dụng một số cách thức đơn giản và rất hiệu quả, có thể đảm bảo hệ thống của bạn vẫn giữ nguyên trạng thái hoạt động tốt nhất và dữ liệu quý giá vẫn còn…
Trước hết hãy tiến hành sao lưu dữ liệu trên máy của mình, kế đến sao lưu toàn bộ thông tin cấu hình hệ thống, các file hệ thống (toàn bộ những thứ này sẽ được lưu trữ khi backup System State Data), và dùng những tính năng phục hồi hệ thống mới, có mặt trên Windows XP Professional hay Windows Server 2003 (System restore Point và ASR – Automated System Restore)
1. Sao lưu System State data (Sao lưu Registry & các thành phần cốt lõi hệ thống)
System state data là những thành phần quan trọng của Hệ thống cần Backup theo định kỳ nhằm có cơ sở để phục hồi HĐH một khi hỏng hóc rơi vào các thành phần sau khiến hệ thống Computer của chúng ta không làm việc hoặc bị thay đổi chỉnh sửa sai lệch gây ảnh hưởng đến cấu hình hệ thống và hoạt động của Hardware , Software đang vận hành
- Boot files (Các Files liên quan đến quá trình khởi động hệ thống như Boot.ini, Ntldr..)
- Các files hệ thống cần được bảo vệ (Windows có WFP -Windows File Protection, tính năng tự động backup và phục hồi khi xảy ra hỏng hóc hay bị xóa các file hệ thống như SYS, DLL, TTF, FON, OCX, và EXE)
- Registry
- COM+ object một cơ sở dữ liệu của các thành phần chương trình được chia sẽ giữa các Ứng dụng
Chú ý: System state data của Server hay Workstation thông thường chỉ chứa những thành phần này, nếu các Server như Domain Controller (máy chủ điều khiển hoạt động Domain) sẽ chứa thêm các thành phần liên quan đến Domain ví dụ như: Active Directory Database
Tất cả các thành phần trong System State data được tích hợp với nhau và khi backup không thể chọn tách rời từng thành phần để backup
Như vậy ví dụ nếu bạn muốn backup toàn bộ Registry, thì cũng cần backup System state data..không thể chọn đơn lẽ Registry trong SSD để backup.
Thực hành:
1. Mở Windows Backup.
2. Chọn Back Up Wizard và click Next.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window2.jpg
3. Chọn Only Backup the System State Data và click Next.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window3.jpg
4. Xác định nơi lưu trữ bản backup , chọn các tùy chọn tại Advanced Backup options, hoặc lập lịch biểu (schedule) cho việc này diễn ra tự động.
Khi hệ thống gặp sự cố hay các File/Registry bị thay đổi có thể chọn Restore để phục hồi
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window4.jpg
Khi hệ thống gặp sự cố nặng không vào HĐH được, khởi động lại Computer chọn F8 và chọn Safe Mode, vào chế độ này tiến hành hoạt động phục hồi System State data tương tự
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window5.jpg
Khởi động vào Safe Mode, Sau đó chúng ta mở chương trình Backup và tiến hành phục hồi System state data bình thường.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window6.jpg
Lập lịch biểu cho việc backup diễn ra tự động
Backup dữ liệu thông thường của Computer (data) và dữ liệu hệ thống như System State data là công việc quan trọng phải làm, nhưng hãy tượng tượng ngày nào cũng làm hoặc làm ngẫu nhiên, chắc chắn sẽ gây nhàm chán, hoặc thiếu sót. Bất kỳ phần mềm backup nào cũng đều có tính năng lập lịch để backup tự động vào thời điểm xác định. Tính năng này gọi là Scheduling Backup
Tiến hành các bươc bình thường, chọn dữ liệu cần backup, trong ví dụ này là C:Data, khung màu xanh và file được backup .bkf được lưu tại đâu, khung màu hồng
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window7.jpg
Chọn Start Backup, sau đó nếu chúng ta click vào nút Start Backup, màu xanh công việc sẽ tiến hành bình thường. Để lập schedule các bạn click vào nút Schedule, khung màu hồng
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window8.jpg
Chúng ta có thể lập hàng loạt lịch biểu để backup các dữ liệu khác nhau, thế nên các bạn phải xác nhận cho từng schedule này. Chọn Yes, để hệ thống lưu lại chọn lựa schedule đang tạo
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window9.jpg
Trong ví dụ này chúng ta đặt tên file là schedule1.bks
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window10.jpg
Sau đó xác định tài khoản được dùng để chạy backup tự động theo lịch. Trong ví dụ này tôi dùng User là BackupAdmin (password là 123456), tài khoản này thuộc nhóm Backup Operators. Trên hệ thống thì mặc định chỉ có 2 Groups là có thể chạy các chương trình Backup/Restore là Administrators và Backup Operators.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window11.jpg
Tiếp theo đặt tên schedule backup này là daily backup (đặt tên này tùy ý bạn)
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window12.jpg
Chọn tiếp properties, và xác lập các thông số như Daily (backup hàng ngày), Once (chỉ một lần duy nhất), Weekly (hàng tuần)… Start Time (bắt đầu backup thời điểm nào). Trong ví dụ này tôi sẽ chọn backup vào ngày thứ 7 hàng tuần, vào 6 giờ chiều, vì đây là thời điểm thích hợp cho backup khi Mạng cty không giao dịch nhiều (ngày nghỉ)..
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window13.jpg
Như vậy cứ đến thời điểm này hàng tuần ntbackup sẽ tự động chạy và backup theo đúng những lịch đã tạo.
2. Dùng System Restore Point phục hồi hệ thống trên Windows XP Pro (mặc định tính năng này không có trên Windows Server 2003)
Nếu như backup System State Data khiến cho người sử dụng cảm thấy yên tâm hơn về hệ thống của mình, vì các thành phần lõi của hệ thống đã được “save”, và nếu như sự cố xảy ra có liên quan đến system, registry v.vv khiến HĐH không thể làm việc, lúc này bạn có thể khởi động Computer từ chế độ an toàn Safe Mode và bắt đầu tiến trình phục hồi. Cơ hội để máy tính vận hành bình thường trở lại là rất lớn
Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng cần một quy trình xử lý công phu như vậy. Có những sự cố nhỏ xảy ra trên hệ thống, khiến hệ thống không còn vận hành trơn tru như lúc đầu, có những xung đột hệ thống, xung đột giữa hệ thống và new Applications, .. khiến hệ thống chạy có vẻ “chập chờn”, chậm chạp. Bạn cài thêm một số ứng dụng mới hôm nay, cài một số thiết bị phần cứng mới, chỉnh sửa các thông số hệ thống..và những hành động này có thể là nguyên nhân. Bạn ước gì Computer của bạn quay trở lại trạng thái hoạt động tốt như hôm thứ 6 vừa rồi, Windows XP Pro có thể giúp bạn điều này không. Microsoft có vẻ như rất hiểu người dùng chuyên nghiệp và tích hợp vào HDH này tính năng System Restore Point, một tính năng hay, có thể đưa Computer quay trở lại những thời điểm được cho là tốt nhất vào những ngày trước đó.
Một khi hệ thống Failed, một khi hệ thống hoạt động làm bạn không hài lòng, có thể dùng System Restore Point đưa hệ thống trở về một thời điểm hoạt động tốt nhất. Tất nhiên thời điểm này đã được System Restore Point “save” lại, và vấn đề duy nhất bạn cần làm là: Trong nhiều thời điểm đã được “save”, hãy xác định thời điểm cần phục hồi. Thứ 6 hay thụ tuần trước máy hoạt động ổn định, System Restore Point hãy giúp tôi phục hồi về thời điểm ấy..
Nếu System Restore Point có thể làm được điều này, hẳn là kỳ diệu vì đã giúp bạn bỏ qua hàng loạt vấn đề đau đầu khi chẩn đoán và khắc phục nguyên nhân của các sự cố. Và các thủ tục phiền hà khi tiến hành phục hồi.
System Restore Point hoạt động thế nào? Hãy tưởng tượng như một máy ảnh, nó ghi lại cấu hình hệ thống vào thời điểm mà bạn muốn chụp (snapshot), và như vậy nó sẽ quan sát và ghi lại được những thay đổi của những thành phần hệ thống tại các thời điểm khác nhau như: sự thay đổi các System files: EXE, SYS, DLL, và COM files…sau đó lưu lại tất cả thay đổi này vào Hard disk. Tuy nhiên cũng chú ý rằng, nó không có trách nhiệm lưu những dữ liệu thông thường của bạn tại những thời điểm này như các file .doc, .xls và các dữ liệu khác chứa trong My Documents folder. Đây là những dữ liệu cá nhân thông thường, không phải là dữ liệu hệ thống (bạn phải tụ backup theo cách thông thường thôi).
Và cũng chú ý một điều quan trọng là, khi phục hồi hệ thống về quá khứ, System Restore Point cũng không hoàn toàn remove những ứng dụng bạn mới cài đặt, bạn cứ yên tâm về điều này…
Cấu hình một System Restore Point
Trước khi cấu hình một System Restore Point, thì bạn cần phải bật tính năng này lên
Right-click vào My Computer, chọn Properties và chọn System Restore như hình minh họa
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window14.jpg
Bỏ không check vào khung màu Đỏ (như vậy bạn đã kích hoạt System Restore Point), chờ trong giây lát để hệ thống kích hoạt tính năng này.
Cần chú ý một điều về không gian đĩa cứng phải dành cho hoạt động của System Restore , ít nhất là 200MB nếu đĩa cứng dung lượng nhỏ. Thường đĩa cứng nhỏ hơn 4 GB, cần ít nhất 400 MB, trên 4 GB cần 12% dung lượng dành cho System Restore để lưu dữ liệu. VÀ tất nhiên nếu bạn không dùng tính năng System Restore thì hãy tắt (Turn Off) nó, để dành space lưu trữ cho các mục đích khác.
Tiếp theo sau khi đã bật System Restore, hãy chạy System Restore từ Start menu, chọn All Programs, Accessories, System Tools, System Restore. Hãy xem cách thức hoạt động
Trước hết, ngay sau khi bạn bật System Restore lên, thì hệ thống sẽ tạo ra ngay System Checkpoint, nó sẽ giám sát ngay toàn bộ những thay đổi hệ thống và lưu vào đĩa cứng. Cứ khoảng 24h một System Checkpoint mới sẽ được tạo, tất nhiên ngày nào bạn không dùng Computer ngày ấy System Restore sẽ không tạo System Checkpoint, ngay khi bạn mở máy vào ngày kế tiếp nó sẽ được tạo.
Như vậy nếu System Checkpoint được tạo ra lần đầu tiên vào hôm nay, thì ngay ngày mai nếu không hài lòng với hoạt động của hệ thống, bạn có thể dùng chức năng phục hồi để chọn và quay trở lại System Checkpoint hôm qua.
Ví dụ tôi muốn quay trở lại thời điểm hôm qua, khi System Restore đã được “save”
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window15.jpg
Tôi chọn Restore my computer to an earlier time và chọn System checkpoint
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window16.jpg
Đây là System checkpoint được hệ thống tạo ra lần đầu tiên vào thời điểm kích hoạt chức năng System Restore.
Click Next và thấy bảng thông báo
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window17.jpg
“Quy trình phục hồi không làm mất dữ liệu gần đây như e-mail, và có thể quay trở lại trạng thái vừa rồi nếu bạn muốn…
Trong suốt quá trình phục hồi System Restore sẽ shutdown Windows, sau khi khởi động Windows sẽ dùng lại các xác lập hệ thống đã lưu trước đó của ngày hôm qua lúc 9h56 AM..” (xem hình)
Như vậy System checkpoint từ khi được kích hoạt đã theo dõi sát sao hệ thống, và tạo ra các System checkpoint mới sau mỗi 24h (1 day), quá trình theo dõi và sao lưu từng ngày hoàn toàn tự động.
Tuy nhiên quá trình một ngày như vậy có lẽ là hơi dài, và đôi khi bạn tiến hành một việc gì đó can thiệp vào hệ thống như cài Application mới, cài Drivers cho thiết bị mới, bạn muốn tự mình tạo ngay các Restore Point tại thời điểm ấy, để nếu xảy ra trục trặc ngay sau khi cài những App và Drivers, bạn có thể phục hồi hệ thống quay lại thời điểm gần nhất khi bạn vừa lưu lại Restore point chứ không phải quay lại thời điểm ngày hôm trước
Như vậy đến đâ có lẽ bạn đã hiểu cơ bản sự khác nhau giữa System Checkpoint do hệ thống tự tạo ngay lần đầu và sau mỗi 24h khác với một Restore Point do bạn tạo bất kỳ lúc nào bạn muốn (thường tiến hành sau khi cài Applications hoặc thay đổi Registry hoặc cài Drivers thiết bị mới..)
Khởi động lại Computer từ Floppy disk hay CD-ROM, loay hoay với một mớ dòng lệnh MS-DOS, và hồi hộp mong cho dữ liệu “hãy quay về”, rồi thất vọng khi chợt nhận ra .."tôi đã cố hết sức ..."
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window1.jpgĐể một ngày nào đó không phải đối mặt với những thảm họa đã nêu, hãy sử dụng một số cách thức đơn giản và rất hiệu quả, có thể đảm bảo hệ thống của bạn vẫn giữ nguyên trạng thái hoạt động tốt nhất và dữ liệu quý giá vẫn còn…
Trước hết hãy tiến hành sao lưu dữ liệu trên máy của mình, kế đến sao lưu toàn bộ thông tin cấu hình hệ thống, các file hệ thống (toàn bộ những thứ này sẽ được lưu trữ khi backup System State Data), và dùng những tính năng phục hồi hệ thống mới, có mặt trên Windows XP Professional hay Windows Server 2003 (System restore Point và ASR – Automated System Restore)
1. Sao lưu System State data (Sao lưu Registry & các thành phần cốt lõi hệ thống)
System state data là những thành phần quan trọng của Hệ thống cần Backup theo định kỳ nhằm có cơ sở để phục hồi HĐH một khi hỏng hóc rơi vào các thành phần sau khiến hệ thống Computer của chúng ta không làm việc hoặc bị thay đổi chỉnh sửa sai lệch gây ảnh hưởng đến cấu hình hệ thống và hoạt động của Hardware , Software đang vận hành
- Boot files (Các Files liên quan đến quá trình khởi động hệ thống như Boot.ini, Ntldr..)
- Các files hệ thống cần được bảo vệ (Windows có WFP -Windows File Protection, tính năng tự động backup và phục hồi khi xảy ra hỏng hóc hay bị xóa các file hệ thống như SYS, DLL, TTF, FON, OCX, và EXE)
- Registry
- COM+ object một cơ sở dữ liệu của các thành phần chương trình được chia sẽ giữa các Ứng dụng
Chú ý: System state data của Server hay Workstation thông thường chỉ chứa những thành phần này, nếu các Server như Domain Controller (máy chủ điều khiển hoạt động Domain) sẽ chứa thêm các thành phần liên quan đến Domain ví dụ như: Active Directory Database
Tất cả các thành phần trong System State data được tích hợp với nhau và khi backup không thể chọn tách rời từng thành phần để backup
Như vậy ví dụ nếu bạn muốn backup toàn bộ Registry, thì cũng cần backup System state data..không thể chọn đơn lẽ Registry trong SSD để backup.
Thực hành:
1. Mở Windows Backup.
2. Chọn Back Up Wizard và click Next.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window2.jpg
3. Chọn Only Backup the System State Data và click Next.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window3.jpg
4. Xác định nơi lưu trữ bản backup , chọn các tùy chọn tại Advanced Backup options, hoặc lập lịch biểu (schedule) cho việc này diễn ra tự động.
Khi hệ thống gặp sự cố hay các File/Registry bị thay đổi có thể chọn Restore để phục hồi
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window4.jpg
Khi hệ thống gặp sự cố nặng không vào HĐH được, khởi động lại Computer chọn F8 và chọn Safe Mode, vào chế độ này tiến hành hoạt động phục hồi System State data tương tự
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window5.jpg
Khởi động vào Safe Mode, Sau đó chúng ta mở chương trình Backup và tiến hành phục hồi System state data bình thường.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window6.jpg
Lập lịch biểu cho việc backup diễn ra tự động
Backup dữ liệu thông thường của Computer (data) và dữ liệu hệ thống như System State data là công việc quan trọng phải làm, nhưng hãy tượng tượng ngày nào cũng làm hoặc làm ngẫu nhiên, chắc chắn sẽ gây nhàm chán, hoặc thiếu sót. Bất kỳ phần mềm backup nào cũng đều có tính năng lập lịch để backup tự động vào thời điểm xác định. Tính năng này gọi là Scheduling Backup
Tiến hành các bươc bình thường, chọn dữ liệu cần backup, trong ví dụ này là C:Data, khung màu xanh và file được backup .bkf được lưu tại đâu, khung màu hồng
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window7.jpg
Chọn Start Backup, sau đó nếu chúng ta click vào nút Start Backup, màu xanh công việc sẽ tiến hành bình thường. Để lập schedule các bạn click vào nút Schedule, khung màu hồng
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window8.jpg
Chúng ta có thể lập hàng loạt lịch biểu để backup các dữ liệu khác nhau, thế nên các bạn phải xác nhận cho từng schedule này. Chọn Yes, để hệ thống lưu lại chọn lựa schedule đang tạo
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window9.jpg
Trong ví dụ này chúng ta đặt tên file là schedule1.bks
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window10.jpg
Sau đó xác định tài khoản được dùng để chạy backup tự động theo lịch. Trong ví dụ này tôi dùng User là BackupAdmin (password là 123456), tài khoản này thuộc nhóm Backup Operators. Trên hệ thống thì mặc định chỉ có 2 Groups là có thể chạy các chương trình Backup/Restore là Administrators và Backup Operators.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window11.jpg
Tiếp theo đặt tên schedule backup này là daily backup (đặt tên này tùy ý bạn)
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window12.jpg
Chọn tiếp properties, và xác lập các thông số như Daily (backup hàng ngày), Once (chỉ một lần duy nhất), Weekly (hàng tuần)… Start Time (bắt đầu backup thời điểm nào). Trong ví dụ này tôi sẽ chọn backup vào ngày thứ 7 hàng tuần, vào 6 giờ chiều, vì đây là thời điểm thích hợp cho backup khi Mạng cty không giao dịch nhiều (ngày nghỉ)..
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window13.jpg
Như vậy cứ đến thời điểm này hàng tuần ntbackup sẽ tự động chạy và backup theo đúng những lịch đã tạo.
2. Dùng System Restore Point phục hồi hệ thống trên Windows XP Pro (mặc định tính năng này không có trên Windows Server 2003)
Nếu như backup System State Data khiến cho người sử dụng cảm thấy yên tâm hơn về hệ thống của mình, vì các thành phần lõi của hệ thống đã được “save”, và nếu như sự cố xảy ra có liên quan đến system, registry v.vv khiến HĐH không thể làm việc, lúc này bạn có thể khởi động Computer từ chế độ an toàn Safe Mode và bắt đầu tiến trình phục hồi. Cơ hội để máy tính vận hành bình thường trở lại là rất lớn
Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng cần một quy trình xử lý công phu như vậy. Có những sự cố nhỏ xảy ra trên hệ thống, khiến hệ thống không còn vận hành trơn tru như lúc đầu, có những xung đột hệ thống, xung đột giữa hệ thống và new Applications, .. khiến hệ thống chạy có vẻ “chập chờn”, chậm chạp. Bạn cài thêm một số ứng dụng mới hôm nay, cài một số thiết bị phần cứng mới, chỉnh sửa các thông số hệ thống..và những hành động này có thể là nguyên nhân. Bạn ước gì Computer của bạn quay trở lại trạng thái hoạt động tốt như hôm thứ 6 vừa rồi, Windows XP Pro có thể giúp bạn điều này không. Microsoft có vẻ như rất hiểu người dùng chuyên nghiệp và tích hợp vào HDH này tính năng System Restore Point, một tính năng hay, có thể đưa Computer quay trở lại những thời điểm được cho là tốt nhất vào những ngày trước đó.
Một khi hệ thống Failed, một khi hệ thống hoạt động làm bạn không hài lòng, có thể dùng System Restore Point đưa hệ thống trở về một thời điểm hoạt động tốt nhất. Tất nhiên thời điểm này đã được System Restore Point “save” lại, và vấn đề duy nhất bạn cần làm là: Trong nhiều thời điểm đã được “save”, hãy xác định thời điểm cần phục hồi. Thứ 6 hay thụ tuần trước máy hoạt động ổn định, System Restore Point hãy giúp tôi phục hồi về thời điểm ấy..
Nếu System Restore Point có thể làm được điều này, hẳn là kỳ diệu vì đã giúp bạn bỏ qua hàng loạt vấn đề đau đầu khi chẩn đoán và khắc phục nguyên nhân của các sự cố. Và các thủ tục phiền hà khi tiến hành phục hồi.
System Restore Point hoạt động thế nào? Hãy tưởng tượng như một máy ảnh, nó ghi lại cấu hình hệ thống vào thời điểm mà bạn muốn chụp (snapshot), và như vậy nó sẽ quan sát và ghi lại được những thay đổi của những thành phần hệ thống tại các thời điểm khác nhau như: sự thay đổi các System files: EXE, SYS, DLL, và COM files…sau đó lưu lại tất cả thay đổi này vào Hard disk. Tuy nhiên cũng chú ý rằng, nó không có trách nhiệm lưu những dữ liệu thông thường của bạn tại những thời điểm này như các file .doc, .xls và các dữ liệu khác chứa trong My Documents folder. Đây là những dữ liệu cá nhân thông thường, không phải là dữ liệu hệ thống (bạn phải tụ backup theo cách thông thường thôi).
Và cũng chú ý một điều quan trọng là, khi phục hồi hệ thống về quá khứ, System Restore Point cũng không hoàn toàn remove những ứng dụng bạn mới cài đặt, bạn cứ yên tâm về điều này…
Cấu hình một System Restore Point
Trước khi cấu hình một System Restore Point, thì bạn cần phải bật tính năng này lên
Right-click vào My Computer, chọn Properties và chọn System Restore như hình minh họa
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window14.jpg
Bỏ không check vào khung màu Đỏ (như vậy bạn đã kích hoạt System Restore Point), chờ trong giây lát để hệ thống kích hoạt tính năng này.
Cần chú ý một điều về không gian đĩa cứng phải dành cho hoạt động của System Restore , ít nhất là 200MB nếu đĩa cứng dung lượng nhỏ. Thường đĩa cứng nhỏ hơn 4 GB, cần ít nhất 400 MB, trên 4 GB cần 12% dung lượng dành cho System Restore để lưu dữ liệu. VÀ tất nhiên nếu bạn không dùng tính năng System Restore thì hãy tắt (Turn Off) nó, để dành space lưu trữ cho các mục đích khác.
Tiếp theo sau khi đã bật System Restore, hãy chạy System Restore từ Start menu, chọn All Programs, Accessories, System Tools, System Restore. Hãy xem cách thức hoạt động
Trước hết, ngay sau khi bạn bật System Restore lên, thì hệ thống sẽ tạo ra ngay System Checkpoint, nó sẽ giám sát ngay toàn bộ những thay đổi hệ thống và lưu vào đĩa cứng. Cứ khoảng 24h một System Checkpoint mới sẽ được tạo, tất nhiên ngày nào bạn không dùng Computer ngày ấy System Restore sẽ không tạo System Checkpoint, ngay khi bạn mở máy vào ngày kế tiếp nó sẽ được tạo.
Như vậy nếu System Checkpoint được tạo ra lần đầu tiên vào hôm nay, thì ngay ngày mai nếu không hài lòng với hoạt động của hệ thống, bạn có thể dùng chức năng phục hồi để chọn và quay trở lại System Checkpoint hôm qua.
Ví dụ tôi muốn quay trở lại thời điểm hôm qua, khi System Restore đã được “save”
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window15.jpg
Tôi chọn Restore my computer to an earlier time và chọn System checkpoint
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window16.jpg
Đây là System checkpoint được hệ thống tạo ra lần đầu tiên vào thời điểm kích hoạt chức năng System Restore.
Click Next và thấy bảng thông báo
http://www.quantrimang.com/photos/Image/072006/19/window17.jpg
“Quy trình phục hồi không làm mất dữ liệu gần đây như e-mail, và có thể quay trở lại trạng thái vừa rồi nếu bạn muốn…
Trong suốt quá trình phục hồi System Restore sẽ shutdown Windows, sau khi khởi động Windows sẽ dùng lại các xác lập hệ thống đã lưu trước đó của ngày hôm qua lúc 9h56 AM..” (xem hình)
Như vậy System checkpoint từ khi được kích hoạt đã theo dõi sát sao hệ thống, và tạo ra các System checkpoint mới sau mỗi 24h (1 day), quá trình theo dõi và sao lưu từng ngày hoàn toàn tự động.
Tuy nhiên quá trình một ngày như vậy có lẽ là hơi dài, và đôi khi bạn tiến hành một việc gì đó can thiệp vào hệ thống như cài Application mới, cài Drivers cho thiết bị mới, bạn muốn tự mình tạo ngay các Restore Point tại thời điểm ấy, để nếu xảy ra trục trặc ngay sau khi cài những App và Drivers, bạn có thể phục hồi hệ thống quay lại thời điểm gần nhất khi bạn vừa lưu lại Restore point chứ không phải quay lại thời điểm ngày hôm trước
Như vậy đến đâ có lẽ bạn đã hiểu cơ bản sự khác nhau giữa System Checkpoint do hệ thống tự tạo ngay lần đầu và sau mỗi 24h khác với một Restore Point do bạn tạo bất kỳ lúc nào bạn muốn (thường tiến hành sau khi cài Applications hoặc thay đổi Registry hoặc cài Drivers thiết bị mới..)
